Rác thải hữu cơ chiếm tỉ lệ lớn trên tổng số rác thải (60%), nếu như không được xử lý, lượng rác thải này sẽ phân huỷ gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng lớn đến đời sống của người dân.
![]() |
| Rác thải hữu cơ được ủ trong các bể ủ |
Việc thu gom tái chế rác thải hữu cơ thành phân hữu cơ vi sinh đang là hướng đi đúng nhằm tạo ra lượng phân hữu cơ vi sinh phục vụ nền nông nghiệp sạch, đồng thời giúp giải quyết đáng kể các vấn đề liên quan đến ô nhiễm môi trường từ rác thải công, nông nghiệp và rác sinh hoạt.
Tại Việt Nam, vấn đề về ô nhiễm môi trường do rác thải sinh hoạt và công nghiệp sẽ là thách thức ngày càng lớn trong những năm tới do tình trạng đô thị hoá cũng như sự phát triển nhanh chóng của các hoạt động sản xuất công nghiệp.
Do thiếu quỹ đất nên các xã, thị trấn khó có thể mở rộng, phát triển hay quy hoạch mới khu vực xử lý rác thải của địa phương mình. Trong khi đó, biện pháp xử lý rác chủ yếu hiện nay là chôn lấp lại không mấy hiệu quả.
Kể từ năm 2012, chính quyền đã tìm cách giải quyết vấn đề này thông qua việc ban hành các quy định mới như khuyến khích thành lập các Hợp tác xã (HTX) môi trường cung cấp dịch vụ thu gom rác thải. Tuy nhiên việc thiếu trang thiết bị, kỹ năng và các hoạt động truyền thông cho người dân về việc trả phí dịch vụ môi trường đã ảnh hưởng nhiều đến hoạt động của các HTX.
Theo đó ngày 5/5/2016, GRET – một tổ chức phi chính phủ của Pháp đã khởi động dự án cải thiện hệ thống quản lý rác thải tại những khu vực nông thông trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc, được gọi tắt là dự án PRO 3.
Trong khuôn khổ dự án này, lượng rác thải hữu cơ sẽ được các HTX môi trường thu gom về làm nguyên liệu để sản xuất phân hữu cơ vi sinh.
Với tư cách là tư vấn của dự án, tháng 4/2017, Viện Thổ nhưỡng Nông hoá đã thực hiện nghiên cứu thị trường nhằm khảo sát nhu cầu tiềm năng đối với phân bón hữu cơ tại Vĩnh Phúc và các tỉnh phụ cận.
Nghiên cứu cho thấy mặc dù khách hàng tỏ ra chuộng phân bón hoá học, song nhu cầu về phân bón hữu cơ đang tăng lên do nhu cầu ngày càng cao đối với hoạt động sản xuất nông nghiệp hữu cơ.
![]() |
| Kiểm tra độ ẩm và nhiệt độ của phân hữu cơ vi sinh thành phẩm |
Để tăng tính khả thi cho hoạt động sản xuất phân hữu cơ từ rác thải hữu cơ (chiếm 60% rác thải sinh hoạt), dự án đã hỗ trợ tái khởi động cơ sở sản xuất phân hữu cơ tại thị trấn Thanh Lãng và một cơ sở nuôi trùn quế tại xã Tân Phong, huyện Bình Xuyên.
Ông Trần Bá Bình, Giám đốc HTX Môi trường xã Tân Phong cho biết: “Vấn đề về ô nhiễm môi trường từ rác thải ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của người dân. Nếu toàn bộ rác thải được chôn lấp thì lượng rác hữu cơ sẽ phân huỷ gây ô nhiễm nguồn nước, đồng thời bốc mùi hôi thối trong quá trình phân huỷ gây ô nhiễm không khí. Tuy nhiên nếu tận dụng được lượng rác hữu cơ đó đưa về HTX tiến hành ủ thì sẽ xử lý được phần lớn các vấn đề về môi trường nêu trên”.
Quy trình xử lý rác gồm các bước sau: Rác thải sinh hoạt thu gom về được phân loại các chất hữu cơ và vô cơ; các thành phần hữu cơ đã phân loại được đưa vào các hố ủ bằng bê tông, sử dụng chế phẩm sinh học phun đều sau mỗi lớp rác 10 – 15cm, nước phun vừa đủ ấm, đậy bạt nhựa kín hố ủ; sau 30 ngày nhiệt độ hố ủ ổn định khoảng 40 – 45 độ C, rác thải đã ủ chín và được đưa vào phân loại lần hai loại bỏ nilon, các chất vô cơ còn sót lại và tiếp tục được nghiền mịn. Cuối cùng, bổ sung hàm lượng vi sinh, phối trộn với phụ gia tạo ra phân hữu cơ thành phẩm để sử dụng trong sản xuất…
| Việc sử dụng chế phẩm xử lý phế phụ phẩm nông nghiệp thành phân bón hữu cơ sinh học bón cho cây trồng vừa giải quyết được vấn đề thiếu phân bón hữu cơ trong sản xuất nông nghiệp, giảm thiểu ô nhiễm môi trường do phế thải gây ra, đồng thời tạo sản phẩm an toàn cho người tiêu dùng, nâng cao hiệu quả sử dụng đất, cân bằng sinh thái, hướng tới nền nông nghiệp sạch, an toàn, bền vững. |
Thông tin sản phẩm
|
Cây trồng
|
Liều lượng
|
Cách bón
|
| Bầu ươm cây con | 1 – 2 kg/1m3giá thể ươm cây | -Trộn đều với giá thể ươm trước khi vô bầu |
|
Cây rau màu
(Cà chua, dưa leo, dưa hấu, khổ qua ớt, rau cải các lọai…)
|
3 – 6 kg/1000 m2
|
-Trộn với phân hữu cơ để bón đất trước khi trồng.
-Bón thúc bổ sung 1 – 2 lần/1 vụ
|
|
Cây công nghiệp ( cà phê, tiêu, điều)
Cây ăn trái (Sầu riêng, cam, quýt, bưởi, xoài…)
|
4 – 8 kg/1000 m2
|
-Trộn với phân hữu cơ bón 1 – 2 lần/ năm
– Bón trực tiếp vào xung quanh gốc cây.
|
– Sản phẩm phân hữu cơ thu được có thể trộn với phân NPK, urê, super lân, kali và các lọai tro trấu.
Liên hệ kinh doanh: 0903865035 – dong.nguyen@dpcc.biz
www.nongtrangxanh.net –www.greenfarmjsc.com
Thông tin sản phẩm
Phân bón Hữu cơ vi sinh – TN Divital – Germany
THÀNH PHẦN: 100% nguyên liệu hữu cơ thiên nhiên, không chất độc hại.
Nitơ (N) tối thiểu: 1% ; Phốt pho (P2O5) tối thiểu: 3% ; Kali (K2O) tối thiểu: 1%, Hữu cơ (OC) tối thiểu: 23% ;
Axit Humic tối thiểu: 1,5% ; Vi sinh vật phân giải Xenlulô – Aspergillus Fumigatus: 1 x 106 CFU/g
TÁC DỤNG: Divital – Germany Dinh dưỡng lý tưởng của cây – Cho nông sản chất lượng vượt trội
– Divital – Germany là phân bón hữu cơ vi sinh giàu năng lượng được xử lý bằng công nghệ sinh học tiên tiến của Cộng Hoà LB Đức, sản phẩm của Nhà máy liên doanh phân bón Đức – Việt, phục vụ ngành Nông nghiệp hữu cơ hiện đại bền vững.
– Divital – Germany giúp cho cây trồng thỏa mãn về nhu cầu dinh dưỡng nhờ khả năng của vi sinh vật khoáng hóa vật chất vùng rễ. Bằng nguồn năng lượng nội tại với tác động của điều kiện tự nhiên, dinh dưỡng trong đất, trong phân được giải phóng và cung cấp đều đặn cho cây theo nhu cầu.
– Divital – Germany kiến tạo môi trường thích hợp giúp bộ rễ cây trồng thực hiện hiệu quả quá trình hô hấp và dinh dưỡng khoáng.
– Divital – Germany ngăn chặn quá trình bay hơi, rửa trôi và cố định dinh dưỡng trong đất, hạn chế gây ô nhiễm và tác động xấu tới môi trường.
– Divital – Germany cải tạo, duy trì và nâng cao sức sản xuất của đất. Nhờ vậy, năng suất và chất lượng nông sản luôn được tăng trưởng qua từng năm, từng vụ.
– Divital – Germany vượt qua giới hạn phân bón, Divital – Germany còn là giải pháp đáp ứng nền Nông nghiệp hữu cơ và thích ứng điều kiện biến đổi khí hậu.
HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG:
Divital – Germany sử dụng tốt cho mọi đối tượng cây trồng, có thể sử dụng bón lót và bón thúc. Đặc biệt rất phù hợp với trồng trọt công nghệ cao (trong nhà lưới, nhà kính và giá thể ươm giống…).
+ Cây hoa và rau màu các loại:
Lượng dùng từ 0,2 – 0,4 kg/m2, sử dụng 1 – 2 lần/vụ (trước khi gieo trồng hoặc sau mỗi lần thu hái).
+ Cây lâu năm (Hồ tiêu, Cà phê, cây ăn quả, cây có múi…):
Lượng dùng từ 0,5 – 2,0 kg/ gốc, sử dụng 2 – 3 lần/ năm (Đầu, giữa và cuối mùa mưa hoặc bón trong giai đoạn phục hồi cây, phân hóa hoa, nuôi trái).
+ Cây cảnh (bon sai):
Lượng dùng tuỳ theo từng cây, bón từ 0,2 – 1,0 kg/ cây, sử dụng 2 lần/năm (Tháng 2 – T3 và T8 – T9), hoặc bón chăm sóc định kỳ.
Cách bón: Nên bón kết hợp làm cỏ, xới sáo, tưới nước và vùi lấp phân, đất trồng mới nên đảo đều phân với đất trước khi trồng.
Bảo quản: Để nơi khô ráo, thoáng mát.
Cảnh báo an toàn: Không nguy hiểm khi tiếp xúc trực tiếp, tránh xa tầm tay trẻ em.
HỒ SƠ PHÁP LÝ:
– Số TCCS 15:2016/TN-TH
– Hợp quy: IQC





