Một số biện pháp kỹ thuật phòng chống rét cho cây trồng

Một số biện pháp kỹ thuật phòng chống rét cho cây trồng

Nhiệt độ thích hợp cho sự nảy mầm của hạt giống lúa và cây mạ sinh trưởng tốt là 28-320C. Hạt lạc, đậu tương, ngô, ớt, đậu các loại 20-300C. Nếu nhiệt độ ngoài trời giảm xuống dưới 130C kéo dài sẽ làm các loại hạt giống rau, màu bị thối hỏng, cây mạ ngừng sinh trưởng thân, lá. Nhiệt độ thấp dưới 100C, rễ mạ ngừng sinh trưởng, không hút được nước và phân; nếu kéo dài trong 7 – 10 ngày cây mạ, cây lúa mới cấy sẽ bị

Nhiệt độ thích hợp cho sự nảy mầm của hạt giống lúa và cây mạ sinh trưởng tốt là 28-320C. Hạt lạc, đậu tương, ngô, ớt, đậu các loại 20-300C. Nếu nhiệt độ ngoài trời giảm xuống dưới 130C kéo dài sẽ làm các loại hạt giống rau, màu bị thối hỏng, cây mạ ngừng sinh trưởng thân, lá. Nhiệt độ thấp dưới 100C, rễ mạ ngừng sinh trưởng, không hút được nước và phân; nếu kéo dài trong 7 – 10 ngày cây mạ, cây lúa mới cấy sẽ bị chết rét. Để giảm bớt thiệt hại do thời tiết rét đậm, rét hại kéo dài gây ra bà con có thể tham khảo một số biện pháp phòng chống rét cho cây trồng như sau:

1.       Chống rét cho mạ xuân

Đối với diện tích đã gieo mạ (lúa xuân sớm) cần áp dụng các biện pháp như: Phủ bằng tro rơm rạ để giữ ấm, ẩm cho ruộng mạ, tưới nước thường xuyên không để ruộng mạ khô hạn.

Nếu nhiệt độ xuống dưới 150C và mức nhiệt này kéo dài, cần phải tưới đủ ẩm (độ ẩm bão hòa), rắc một lớp mỏng tro rơm rạ lên bề mặt luống mạ (1,5kg/100m2 mạ), dùng nilon trắng mỏng trùm kín cho mạ (tuyệt đối không dùng loại nilon tối màu sẽ làm giảm khả năng quang hợp của cây).

   Không dùng  nilon tối màu che phủ cho mạ

Không gieo mạ khi nhiệt độ dưới 150C, nên áp dụng biện pháp làm mạ nền, mạ khay, đặc biệt cần chuẩn bị nilon để che phủ toàn bộ diện tích mạ gieo khi gặp thời tiết lạnh kéo dài.

Cách che phủ nilon cho mạ: Làm khung tre uốn theo hình vòm cống, lấy một thanh dài buộc các thanh hình vòm cống ở phần đỉnh và hai thanh buộc 2 bên cạnh để bộ khung có kết cấu vững chắc nếu gặp gió mạnh cũng không bị đổ gẫy; sau đó phủ nilon lên trên, đảm bảo khoảng cách ở giữa mặt luống mạ với nilon cao ít nhất 0,4 – 0,6m. Khi nhịêt độ tăng dần, ban ngày thời tiết ấm nhiệt độ lên đến trên 200C cần phải mở nilon ở hai đầu để thoát hơi nước tránh cho mạ bị nấm bệnh và mạ bị cháy lá, đêm đến trời lạnh lại tiếp tục đậy nilon.

   Mở nilon che phủ cho mạ khi nhiệt độ trên 200C

Trước khi cấy 2 đến 3 ngày, nên mở nilon cho mạ làm quen dần với môi truờng bên ngoài hạn chế mạ bị sốc nhiệt khi đem cấy ngay ra ngoài ruộng, vì ruộng cấy có môi trường tiểu khí hậu khác hẳn so với môi trường mạ che nilon.

Không được bón thúc đạm, không mở nilon và đem mạ đi cấy khi nhiệt độ ngoài trời dưới 150C.

2. Phòng, chống rét cho rau màu

Bón bổ sung thêm phân kali, phân lân, giảm bón đạm để cây khỏe mạnh tăng cường khả năng chống rét;

Những ngày có sương muối giá buốt, cần tưới nước trên mặt lá làm tan sương để tránh hiện tượng cháy lá khi có ánh nắng;

Đối với lạc, đậu tương, ớt, ngô xuân…chú ý không gieo trồng trong những ngày giá rét, nhiệt độ thấp dưới 15 0C kéo dài cho dù thời vụ đã đến;

Các loại cây rau như: Hành hoa, ớt, các loại cây họ cà (cà chua, khoai tây), rau họ cải (bắp cải, su hào, su lơ…), và các loại rau khác cần tưới đủ ẩm theo nhu cầu dinh dưỡng của từng cây trong những ngày rét đậm. Bón bổ sung phân kali, phân lân, giảm bón đạm để cây khoẻ mạnh tăng cường khả năng chống rét.

Tỉa thưa hợp lí cành, nhánh (nhất là đối với cây cà chua), làm bộ tán thông thoáng, hạn chế sâu, bệnh hại. Thụ phấn nhân tạo, thụ phấn bổ sung cho các loại rau ăn quả (cà chua).

 

Hồng Thắng – Sở No Bắc Kạn

 

PS: theo kinh nghiệm dân gian, trong mùa lạnh, rét, … cần giảm thiểu dinh dưỡng đạm, mà bổ sung thêm lân, kali (có nhiều trong phân gà ủ hoai, tro bếp, các dinh dưỡng cây trồng nhập khẩu sinh học như humic, kali humate) hoặc dùng MKP. Các trung vi lượng cần thiết như Canxi, kẽm… vi lượng kẽm giúp quá trình hô hấp và chuyển hóa cacbonhydrat rất tốt, giúp cây trồng tăng khả năng chống rét.

Thông tin sản phẩm

Kali phosphate (phân MKP)

K2O: 35%

P2O5: 52%

Tinh thể màu trắng (white crystal)

Công thức hóa học : KH2PO4

Quy cách: 25kg/bao (25kg/bag)

Use for pried of getting flower & bearing fruits

Được sản xuất từ axit phốtphoric kỹ thuật và Kali Cacbonat .

Công dụng:

– Dùng trong nông nghiệp :là chất giàu lân và kali tan thích hợp bón cho cây thời kì ra hoa và đậu trái.

Là loại hóa chất dùng lên men vi sinh trong sản xuất bột ngọt, men bánh mì ; dùng làm phân bón vi lượng, …

Mức chỉ tiêu:

Tinh thể màu trắng Min 98 %

Kali phosphate (KH2PO4) hay còn gọi là phân MKP: Chứa 35% K2O và 52% P2O5. Do giá thành khá cao nên loại phân này ưu tiên phun lên lá để có hiệu quả kinh tế cao, kích thích cây ra hoa sớm và đồng loạt, tỉ lệ đậu quả cao.

Phân MKP có tên đầy đủ là Mono Potassium Phosphate. Phân có chứa 2 dưỡng chất chính là lân (52%) và kali (34%) ở dạng hòa tan hoàn toàn nên thường được dùng làm phân bón lá hoặc hòa vào hệ thống tưới nhỏ giọt. Phân MKP không chứa chất đạm nên dễ dàng điều chỉnh lượng đạm bón theo nhu cầu của cây trồng.

Phân MKP thường được sử dụng vào các thời kỳ cây trồng có nhu cầu cao về chất lân và kali. Khi được phun vào thời kỳ cây con có 4-6 lá, Phân MKP giúp hệ thống rễ phát triển sớm, cây trồng hấp thu các chất dinh dưỡng thuận lợi và vì vậy tăng cường khả năng chống hạn. Trong môi trường bị ngộ độc phèn và ngộ độc hữu cơ, phun Phân MKP có tác dụng kích thích ra rễ non, giúp cây mau hồi phục.

Do không chứa đạm, nên vào mùa mưa Phân MKP thường được dùng để thay thế phân nitrate kali (KNO3) nhằm cung cấp chất kali làm tăng năng suất cây trồng đồng thời hạn chế được một số bệnh hại như đạo ôn, khô vằn, thán thư…

nong-trang-xanh-1
CTY CP TƯ VẤN ĐẦU TƯ XNK NÔNG TRANG XANH
GREENFARM  IMPORT  EXPORT INVESTMENT CONSULTANT JOINT STOCK COMPANY
Tên công ty viết tắt:GREENFARM JSC

 

Kali phosphate (KH2PO4) hay còn gọi là phân MKP: Chứa 35% K2O và 52% P2O5. Do giá thành khá cao nên loại phân này ưu tiên phun lên lá để có hiệu quả kinh tế cao, kích thích cây ra hoa sớm và đồng loạt, tỉ lệ đậu quả cao.

Phân MKP có tên đầy đủ là Mono Potassium Phosphate. Phân có chứa 2 dưỡng chất chính là lân (52%) và kali (34%) ở dạng hòa tan hoàn toàn nên thường được dùng làm phân bón lá hoặc hòa vào hệ thống tưới nhỏ giọt. Phân MKP không chứa chất đạm nên dễ dàng điều chỉnh lượng đạm bón theo nhu cầu của cây trồng.

Phân MKP thường được sử dụng vào các thời kỳ cây trồng có nhu cầu cao về chất lân và kali. Khi được phun vào thời kỳ cây con có 4-6 lá, Phân MKP giúp hệ thống rễ phát triển sớm, cây trồng hấp thu các chất dinh dưỡng thuận lợi và vì vậy tăng cường khả năng chống hạn. Trong môi trường bị ngộ độc phèn và ngộ độc hữu cơ, phun Phân MKP có tác dụng kích thích ra rễ non, giúp cây mau hồi phục.

Do không chứa đạm, nên vào mùa mưa Phân MKP thường được dùng để thay thế phân nitrate kali (KNO3) nhằm cung cấp chất kali làm tăng năng suất cây trồng đồng thời hạn chế được một số bệnh hại như đạo ôn, khô vằn, thán thư…

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *